Ngày xưa mẹ tòan bảo mày phải sửa đi , cái mặt lạnh lùng , cáu bẳn . Đến lớp thì bạn bè bảo lúc nào cũng toe toét , nhất là cấp 3 , những năm cấp 3 dường như là những năm mình cười nhiều nhất, lên đại học , làm lớp trưởng , thỉng thỏang chả biết học đâu cái thói hạch sách cửa quyền của mấy bà hành chính , cứ hỏi nhiều là mình cáu . Mình thấy chỉ trong 1,2 năm mà mình thay đổi nhiều , mà thay đổi đáng kể nhất có lẽ là cái tính biết nhịn , bị chửi : nhịn , bị nói xấu :nhịn , bị khinh thường ra mặt : cũng nhịn .Tiên trách kỉ hậu trách nhân , bị chửi vì làm chưa tốt , hành xử chưa hay , thôi thì nhịn ; bị nói xấu mà đáp cái dép vào mặt đứa nói xấu thì chỉ tổ mất bạn , bị cười chê , mà lại ảnh hưởng đến cái người nói cho mình biết : lại nhịn ; bị khinh là vì chưa giỏi , chưa cố hết mình , lỗi mình sờ sờ ra đấy trách ai , chỉ có là trách mình . Định lôi luật ra học thì lại buồn ngủ , thôi , gì chứ cái mắt cái đầu là phải chiều , đi ngủ nhé .
Hồi rất nhỏ thì rất ghét chó , sợ chó cắn , vẫn nhớ chó ông San đuổi theo mình một quãng bán sống bán chết. Năm 1998 , chuyển nhà , lần đầu tiên có cả một cái vườn rộng , đi học về đã thấy 1 con chó bé xíu buộc dây cổ vào cái thanh sắt bình thường vẫn để đẩy xe lên nhà. Nó bé xíu , vẫn buồn buồn , chắc vừa phải dời xa mẹ , chó nhỏ tí , răng bé xíu , đêm đêm vẫn kêu inh ỏi cả nhà , mình vẫn nhớ lần đầu tiên pha sữa , lần đầu tiên đặt tên chó là jôn , bảo tên em là jôn nhé , lần sau gọi em là jôn em phải chạy ra nhé . Jôn chứng kiến từ khi mình học lớp 6 , đến đại học năm thứ 1 , từ khi jôn bé tí phải bế đi tiêm phòng , đến khi jôn già mắt mờ đi tòan đâm vào tường vào cột , xót lắm . Từ khi là đứa bé con , ngày nào đạp xe đi học về cũng ngồi ở của chơi với jôn vì không có chìa khóa vào nhà , cho đến khi được đi chơi đêm về muộn , jôn lại chạy ra ngõ nhà đón . Vẫn nhớ năm thứ 1 , đi quân sự về , bố dắt xe vào nhà , bố bảo : jôn chết rồi con ạh , mình thì cứ nghĩ bố đùa . Hôm đấy thứ 6 , Jôn chết hôm thứ 3 , chạy ra sân thấy cái nồi sắt jôn ăn cơm vẫn ở ngay đấy .Ra vườn nhặt xung quanh vẫn thấy vài đám lông vụn , lông tơ vẫn mềm , ngưỉ vẫn thấy mùi ngái ngái thơm thơm . Hồi đấy hận mình lắm , nghĩ mình cứ bỏ thời gian đâu đâu chơi với bạn bè , buổi trưa có hôm jôn phải nhịn , đến tối về cho ăn bù vì mình bận đi chơi , hồi cấp 2 không đi chơi mấy vì cũng chẳng được đi chơi mấy , nhà cũng chẳng có net ,thì chiều nào đi học về cũng ngồi giết từg con rận cho jôn , tắm táp , rồi ngồi cù , ngồi nghịch .Có mấy lần jôn bắt chuột , cả nhà cùng hùa vào , chỉ cho Jôn , kia kia` Jôn kìa , hầu như lần nào cũng bắt được chuột . Rồi có lần mình với cu Trung chạy theo nó về cuối khu , chẳng nhớ cậu mải đuổi con jì nữa , chỉ biết cậu đi xuống nước , hồi đấy tường của khu vẫn tạm bợ , chưa xây vững chắc như bây jờ , vẫn còn có một cái mảng trống bên kia là hồ nhỏ , Jôn bơi qua mà mình hỏang quá , lần đầu tiên nhìn thấy chó biết bơi .Về sau già dần ,mắt jôn bị mờ , tối nào cũng tầm cả nhà ăn cơm xong , ra sân sau là đã thấy Jôn ngồi ngoan chờ jờ ăn , jôn kén ăn , kô ăn được nhiều , nhưng tối nào cũng đúng giờ là ngồi đợi . Mình là đứa phức tạp , vốn luôn cảm thấy cô đơn , luôn cảm thấy cuộc sống chẳng bao giờ đầy đủ . Dường như jôn là người bạn thân nhất cả tuổi thơ của mình . Hồi jôn mất mình cứ vừa hận mình , vừa hận người tàn nhẫn , giết một mạng dù là mạng chó nhưng bao nhiêu yêu thương làm sao nói nó chỉ là con chó , tình cảm 8 năm trời không mang người giết chó ra mà xử mà nợ máu trả máu được , cuối cùng vẫn chỉ ôm hận nhìn về phía cổng khu mà oán .Sau đấy phải hơn một tuần , ăn cơm mình vẫn không nhớ lúc dọn bàn vẫn trút hết xương vào một bát , đem ra vườn rồi mới nhớ còn jôn đâu. Có lần ngồi bệt phía sau vườn mà khóc . Jôn là bạn , là em , là người thân , là một phần tuổi thơ . 2 tháng sau jôn mất thì một hôm dì Hồng gọi sang , bảo mới bắt một con chó mới , trời ơi , sao cứ như có duyên , như trời nhìn thấy cả nhà thương nó , kì diệu lắm , con chó mới bắt giống hệt Jôn cũ , lại đặt tên em là jôn . Chuyện về em này thì dài lắm ...khi nào có thời gian lại ngồi nhớ , ngồi type . Mấy năm bố mẹ chỉ có jôn làm bạn , 2 đứa con xa nhà thương bố mẹ nhiều , nhớ jôn nhiều. Càng ngày mình càng sợ lớn lên , đi xa mới thấy dường như tuổi thơ của mình không êm ả tòan màu hồng , nhưng cũng là màu ấm , màu sáng , mới thấm thía nỗi hy sinh không thể trả nổi của bố mẹ cho 2 đứa con , mới trân trọng quá khứ đã qua , những hạnh phúc quá đỗi đậm sâu mà mình cứ phải lấy ra làm lương khô ăn tạm trog những tháng ngày ở nơi đất khách quê người này để mà sống tốt . Bỗng dưng sợ lắm , sợ quá cái ngày phải làm người lớn , phải gánh vác những gì như bố mẹ đang làm , mới thấy làm bố làm mẹ sao khổ quá , sợ cả khi thời gian trôi nhanh quá , sợ rồi cũng sẽ đến lúc phải chia tay những gì thân yêu lắm , như phải chia tay jôn đầu tiên mà không được ôm em lần cuối , không được thấy đôi mắt trong nâu vẫn nhìn mình âu yếm , cái lưỡi mềm liếm liếm chân mình thức mình dậy đi học ... to lớn hơn là chứng kiến ông ngoại mất , rồi bà ngoại ...thời gian chẳng bỏ qua một ai trong khi mình thì thấy mình sao mà yếu ớt ...
Trích trong tập tản văn Nguyễn Ngọc Tư Ngày mai của những ngày mai...
Tạp văn
Nguyễn Ngọc Tư
Phải có đến hàng trăm lần, tôi nghe và nói cái câu nào đó tương tự như “hẹn mai mốt gặp”. Như một thói quen, như một câu chào, người ta tự nhiên nói mà không quan tâm điều đó có xảy ra hay không. Và cái câu hẹn mai mốt gặp trong tôi luôn mang ý nghĩa, chào nghen, tôi về.
Và cái buổi nắng lên trong vườn dừa hôm ấy, tôi cũng nghe lại câu này, “hẹn mai mốt gặp, mình nói chuyện nghề chơi”. Người “hẹn hò” tôi là một ông già gầy gò, kham khổ. Tôi không trả lời được, tôi thoáng nghẹn đi, vì cái cảm giác tiếc nuối do chia tay vội buốt ở đầu mắt, thì cuối mắt ông nhấp nhánh ánh lên sự hy vọng hồn nhiên. Mai mốt gặp.
Lưng bỗng đau khi day lại phía ông già. Chân bước đi cũng đau. Gáy tôi nhìn thấy cái tuổi tám mươi tư của ông già đứng im sững bên chái nhà, nơi đặt bộ bàn tiếp khách. Gáy tôi lạnh. Trời ơi, sao ở cái tuổi ấy người vẫn còn có thể thanh thản hẹn với một ngày mai?
Hơn ai hết, ông già biết ngày mai đó rất xa xôi. Bởi ông không còn sức để đi chỗ này, chỗ khác, không thích những chỗ xô bồ xô bộn, họp hội xinh xang. Chủ nhân (dù muốn hay không) của câu nói nổi tiếng ngang tàng ngạo nghễ, “đi chỗ khác chơi” đã chọn chơi với mảnh vườn yên tĩnh của mình. Con mương vườn rụng đầy những trái dừa chuột cắn, mấy cây bưởi ngoài sân trước. Hơn ai hết, ông biết đôi chân mình đã mỏi, lời đã mỏi nụ cười đã mỏi, chỉ ánh nhìn là vẫn lấp lánh sự tinh quái, làm tôi thót tim lại, hôm đầu gặp ông.
Cái nhìn soi thấu vào gan ruột người ta. Trong những cơ may gặp gỡ mà tôi có được, chỉ vài ba người làm tôi sợ, vì cái sự-đọc-được-người-khác của họ. Ông già cũng làm tôi sợ, ông thấu được một tôi nông cạn, hời hợt, dại dột. Cũng chẳng có gì nghiêm trọng, chỉ là cảm giác mất tự do, mình sống thế nào, mình che đậy thế nào, mình xoay bề nào ông già cũng ngoáy cái ánh mắt tinh quái, cái cười hóm hỉnh vào, chọc chọc. Đối mặt nhau qua cái bàn trà cũ kỷ, nhưng mỗi lần nghe ông già dùng trí nhớ mẫn tiệp của mình dẫn lại mấy câu văn dài ngoằng của Lỗ Tấn, một đoạn truyện cũng dài thườn thượt của Ernest Hemingway, tôi lại cảm giác ông già ở trên cao, và mình trong cái thế phải ngước lên, ông thầy giỏi mà kẻ học thì lơ ngơ, như vói hái trái ở một cành cây quá đầu, mỏi chân, mỏi cổ quá trời.
Nhưng tôi biết, cái cội cây già ấy sâu thẳm tự đáy lòng muốn trao trái cho đám trẻ như tôi. Cái cây vẫn còn quá nhiều trái trên cành mà thân đã dần cạn nhựa, cây không muốn trái cũng chết khô giữa trời. Trái kia, phải được hái khẽ khàng, để một hôm nào đó, sau mưa, hạt lại ươm mầm trên những mảnh đất mới và đầy sức sống.
Thiệt tình, đó là tất cả những gì tôi muốn khi bước chân qua cánh cỗng xiêu xiêu kia. Học. Tôi chỉ cần có vậy, học tất cả những gì ông già có, nhân cách sống, sự lịch lãm, ngạo đời, vốn kiến thức văn học giàu có, cái nhìn nghề khe khắt… Nhưng học ông già này hơi bị… khó, nên bước chân ra về lại rấm rức, sao mình không thể ở lâu hơn, mà tôi đoán phía bên kia cũng… ấm ức giống tôi. Đã nói gì được nhiều đâu, đã cho và nhận kịp đâu, nhìn thẳng ông già tôi còn không dám, nói gì tôi đã chạm được ông. Mà, tôi muốn chạm vào ông, muốn đọc chút xíu ông, muốn tự mình dệt nên một câu chuyện tếu táo gì đó về ông, lâu nay tôi toàn nghe giai thoại của người khác. Vậy nên cả hai không thỏa, vậy nên ông già ngó tôi mà rằng, “mai mốt mình gặp nói chuyện nghề chơi”.
Và tôi ngẩn ngơ. Tôi muốn gặp ông già lần nữa, lần nữa, gặp hoài nhưng tôi không bao giờ cất lời hẹn lần sau. Hơn ai hết, tôi biết mình lâu lắm mới sẽ trở lại nơi này, lâu lắm tôi mới lại qua sông Tiền, vì tôi ở xa, vì tôi là đứa ru rú xó nhà ít lang thang đây đó. Tôi tầm thường đến nỗi lên xe rồi, cứ nghĩ tới chuyện nhà không ai quét, con trai không ai nấu cơm cho ăn, và nghĩ tới cái gối ôm có hình mấy con thỏ thả bong bóng bay là tôi muốn quay lại cho rồi. Nhưng nếu muộn hơn, bạn bè tôi còn, những vườn dừa còn, nhưng ông già Nam Bộ ngạo đời ấy tôi không còn cơ hội gặp nữa, ý nghĩ đó đã đưa tôi đi, vượt lên những lười nhác. Gặp lần đầu, tôi vẫn không tin mình sẽ gặp ông lần hai, và gặp lần hai, tôi làm sao biết được có còn lần nữa.
Bởi những cuộc hẹn sẽ có ít nhiều đổ vỡ, bất trắc. Trên con đường đi đến đó, có khi tôi đau bụng nên quay lại, có khi tôi gặp bạn bè và say mèm ở dọc đường, có khi chiếc xe trở chứng xịch lụi chết máy. Tôi đến nơi thì người cũng vừa đi khuất. Mà bất trắc thì quá nhiều nhân dạng. Vượt qua khoảng cách địa lý, vượt qua những rào cản lặt vặt như… cái gối ôm để thực hiện cuộc gặp, nhiều khi lãng trân. Tôi không là tôi cũ, người không còn là người cũ, gặp nhau cũng như không. Ông già thì vững trân một nếp, nhưng tôi? Chưa chắc… Tôi đã có lần gặp bạn mừng chưa hết, thì nói câu gì đó đau lòng rồi cuộc hẹn tan mau.
Nhưng có một dạng bất trắc hơn cả mọi bất trắc mà tôi không bao giờ kịp quen. Đi đám giỗ, gặp nhỏ em họ cùng tuổi, hẹn nhau đám giỗ sau, nhưng nó đã bỏ đời đi sau một cơn buồn. Có người hôm trước gặp nhau còn cười hỏi, “ê khoẻ hôn, lâu quá không nhậu nghen, mai mốt rảnh rổi, anh gọi”, hôm sau thấy anh cười trên ti vi, nụ cười đã bất động, không thể tin, người cười đẹp vậy sao có thể thản nhiên ra đi giữa khuya vì đau tim được hả trời. Và bất trắc thì đôi khi không chờ giữa hai lần đám giỗ, không chờ qua một ngày, bất trắc chỉ trong tích tắc, một cô gái ngún nguẩy đuôi tóc, tung tăng bước qua đường vẫn trong tầm nhìn tôi, tôi vẫn chưa chớp mắt thì chiếc xe điên cuồng nào đó đã huỷ hoại cuộc sống của cô rồi, chỉ một phần trăm của giây. Trong những câu chuyện thường ngày quanh ly rượu, chén trà, sau tiếng thở dài, người ta chép miệng, “mới hôm qua…”, “mới cái độp đây mà…”. Bất trắc nhanh đến nỗi khiến người ở lại phải hoang mang giữa tuyệt vọng và hy vọng, giữa có nghĩa và vô nghĩa, bởi rõ ràng thân xác đã nguội rồi, rồi, nhưng cảm giác về người cũng còn nguyên vẹn. Trong veo. Rực rỡ. Tôi sợ…
Ông già thì đã tám mươi tư…
Nhưng ông già đã hẹn tôi, ông không thèm nhìn cái tuổi tám mươi tư của ông, mà sao tôi cứ nhìn mãi, thấy mãi. Xe tôi khuất qua những thôn xóm, qua trùng trùng muôn muôn những vườn cây trái, những dòng sông, hàng trăm cây số, về đến nhà, đóng chặt cửa, nhắm mắt lại tôi vẫn nhìn thấy mái tóc ông bạc, lưa thưa, giọng nói đã hơi run khi vượt thoát khỏi đôi môi, và gầy đến chiếc áo của ông cũng ngẩn ngơ như nó đã đánh mất da thịt của ông rồi.
Nhưng ông già đã hẹn tôi. Ông không thấy cái tuổi tám mươi tư của mình, bởi vì ông không có tuổi, chẳng bất trắc nào đánh gục được ông, ông sống hàng trăm tuổi ấy, với những gì ông để lại. Một nhân cách hơi kỳ lạ, cô đơn sâu nhói, đeo đuổi sự tự trọng đến cuối đời. Những trang văn đau, sâu sắc, tinh tế, mà sang trọng, lịch lãm. Ông “đi chỗ khác chơi”, không “bẹo hình bẹo dạng” nữa, nhưng nhiều người vẫn gặp ông khi qua căn gác cũ, con đường cũ, quán cũ, trang sách cũ… Bao giờ còn những khoảnh khắc mà các hạt bụi như tôi bỗng nhớ đến non-ông, nhớ cái cây cổ thụ già ấy thì ông vẫn còn nguyên trân đó, dù cái áo xưa đã xếp lại, hết chỗ cho nó phất phơ rồi.
Hóa ra, cái hình ảnh tám mươi tư tuổi của ông già chỉ là tôi mượn để nói tránh về một tôi già nua, chỉ tôi là nhìn thấy tuổi, nhìn người, nhớ người, hẹn người bằng tuổi. Tuổi không phải là biểu tượng của đời đâu, nhỏ ơi. Ông già chắc không biết là câu nói hẹn gặp lại bị tôi suy diễn xa dữ vậy.
Đơn giản, chỉ là ông kêu có dịp thì gặp nhau, nói chuyện văn chương vô tận chơi thôi. Đơn giản là tuổi già của ông bị cô đơn ăn hiếp quá, dồn đuổi quá, lâu lâu có đứa nhỏ buồn mà cà chớn như tôi đến chơi thì vui chớ sao. Thì muốn còn tập tiếp theo chớ sao. Dù ngày mai, mốt đó là của những ngày mai, mốt khác. Nó xa, nhưng mà gần, cứ kêu lên, ngày mai, chẳng phải qua đêm nay là tới sao? Những hẹn hò có khi mãi mãi là hẹn hò, nhưng nhờ nó, người ta mới chịu khó ngồi nuôi dưỡng niềm tin. Tôi mới chịu khó sống và viết, tôi mà tệ quá, ông già không chịu tiếp, thì chết.
Tôi vẫn còn muốn hái thật nhiều trái chín của cái cây cổ thụ tuyệt đẹp có sức sống mãnh liệt đó. Tôi tham quá trời đi.
Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư Bà ngoại ta, mấy nhà hoạt động xã hội vì sự tiến bộ của phụ nữ, hay giải phóng phụ nữ gì gì đó gặp một lần là khóc chết luôn.Sơn móng tay hay móng chân, mặc váy hay quần đùi, tóc uốn hay tóc tém, tóc nhuộm, áo hở ngực hay áo bó... tóm lại, sự chưng diện luôn làm bà ngoại ghét cay đắng. Nên hai cô con gái của ngoại suốt thời thiếu nữ chỉ thả tóc đen dài, chết bỏ cũng chỉ bộ bà ba, móng chân duy nhất màu phèn vàng ệch. Lúc già, hai nàng này bắt đầu day qua nhằn tụi nhỏ, "bà ngoại mầy mà còn sống, bả chửi tan nát..." Nhưng bà ngoại mất rồi, rất thanh thản, bà ngoại còn lựa ngày để chết, vào buổi sáng hôm tiên thường cúng giỗ ông ngoại. Bà ngoại đi trong lúc con gái đang lúi húi hấp bột, xào nhân gói bánh. Hồi còn sống, bà ngoại luôn nói chết làm sao cho bớt bận lòng đám con cháu vốn ít ỏi, bây giờ thì đám giỗ đông vui, có cả cháu ông, cháu bà, bên nội bên ngoại. Hồi còn sống, bà ngoại hay nói về ngày ngoại chết, nói thản nhiên, nói rộn rã như đang lên kế hoạch cho buổi... hội nghị nào đó (có phong bì). Ngoại dặn, đừng mời thầy chùa vì sợ con cháu bận theo lạy trong lúc tụng kinh mà không phục vụ khách chu đáo. Dặn phải nấu đồ ăn cho dư nhiều, để cho kết thúc thì bưng cho xóm giềng, cho những người đi giùm đám. Dặn sau này cúng giỗ thì đơn giản thôi, miễn có con cá lóc nướng cũng xong, nhưng cúng trăm mươi ngày thì làm lớn, đây là dịp hậu tạ những người đã giúp đỡ hồi đám ma. Dặn đừng có mời kèn trống làm chi, uổng tiền. Uổng tiền, đó là câu nói đầu môi của bà ngoại. Nó làm mất lửa bất cứ ai hí hửng đem cho ngoại bộ đồ mới, cái võng mới, hay nón mới. Đồ cũ còn mặc được (dù đã vá mấy chỗ, dù lưng áo đã mỏng te, mấy nẹp áo đã sờn). Võng cũ còn nằm được (dù đã vá chồng mấy lớp). Đội nón cũ đâu có chết (dù đã bung vành, xuống màu, thâm kim). Cái gì ngoại cũng tận dụng đến cùng, bao gạo, hay cái mùng vải đều nằm trong chủ trương "còn rách còn... vá". Cấp bậc cao hơn là vá... lu, xoong chảo bằng gang cũng vá luôn. Nếu vá mà vẫn không dùng được, lu ngoại sẽ để dành dú chuối, xooang chảo để làm mẻ ung muỗi cho heo. Áo, nếu đã không còn mặc được nữa, ngoại sẽ lắt mấy cái nút bóp trước khi chuyển áo qua làm... nùi giẻ. Mà, nó sống hết đời lau chùi, thì chỉ có nước làm phân cho... trầu. Vườn trầu của ngoại nổi tiếng cả xóm, nên mấy chiếc ghe hàng bông hay ghé hỏi mua. (Tụi nhỏ đất liền có dịp gặp tụi nhỏ hàng bông, để sau này có đứa lon ton lượm lặt chi tiết để viết... truyện ngắn thương hồ). Ngoại hái trầu đến mức móngtay mòn khuyết một lõm. Những ngày vào đợt hái trầu, ngoại quảy cà vung ra vườn sớm, lúc mặt trời lên cũng là lúc ngoại na cà vung vào, đổ ra bộ ván rồi lấy dây lát bó trầu. Ốp trầu của ngoại cũng nổi tiếng, chặt chẽ mà mềm mại, không làm lá trầu giập, cũng chẳng dễ tuột dây. Để có những cái lá trầu mượt mà, nồng đậm, ngoại ủ một khạp cá phân thúi ùm, ngang qua đó tụi nhỏ nín thở, chạy cái vèo. Chỉ ngoại là tỉnh bơ lấy gàu múc tưới. Ngoại không sợ gì hết (chết mà còn không sợ thì sợ gì nữa). Ngoại cất cái quán nhỏ dưới bến bán "tót ten" (chữ này của ngoại hay khủng khiếp). Từ quán lên nhà phải qua một con đường mòn hai bên dừa nước bịt khù. Lại còn ráng, ô rô mọc xon xen ra lối đi, ban đêm tối mịt mùng, thấy ớn. Ngoại không ớn, cả con kinh Rạch Rập trước nhà cũng khủng khiếp, nghe kể hồi chiến tranh lâu lâu ngoại bơi xuồng đụng phải một xác chết, lâu lâu, lại thấy có khúc chân người tấp vô ven đó. Ngoại lấy dầm... vít ra. Chuyện nhỏ như... con thỏ. Những năm tháng sống cạnh đồn Chẹt chắc không dễ dàng gì, khi chồng và con gái đầu lại là... Việt Cộng, bà ngoại trở nên (hay đã sẵn tính) gan lì. Vườn cũ, chim cú trú ngụ hàng bầy, đêm nào chúng cũng thảm thiết cất tiếng kêu, ngoại tỉnh bơ, xách đèn cóc ra chuồng heo coi tụi nó sao lại chộn rộn vậy. Trời ban cho ngoại bàntay lẹ làng, tướng đi lật đật, con mắt lanh lợi nên bà giỏi giang. Làm bánh hết sẩy, buôn bán cũng có khiếu, mà đan đát cũng tài. Sàng sịa thúng mủng, rổ lớn rổ nhỏ toàn là ngoại đương lấy. Và cái quấn vải mà ngoại quấn trên ngóntay trỏ để vót nan cũng hay mòn. Tuần rồi, về U Minh ghé qua rạch Ổ Ó, quê nhà của bà ngoại, gặp người dì (gọi ngoại bằng dì) đang ngồi đương rổ, bỗng giật mình. Trời, người gì mà giống ngoại ta xưa. Ở đây, bảy mươi năm trước, có một bầy con gái ngồi vót nan trong ánh trời chiều, không biết yêu đương hò hẹn, cứ vậy, chờ người tới rước đi. Để tiếp tục nấu nướng, làm lụng, đương đầu với cuộc đời. Ngoại cũng có lúc sợ, lý do rất mắc cười, thí dụ, bà lại thảng thốt khi nghe tiếng gà gáy ban trưa, ngoại ngó con gái mình, hơi dè dặt, rầu rỉ, "Gáy kiểu này là xóm có đứa chửa hoang rồi. Tụi bây ráng giữ...". Ngoại hay thở dài ứ hự, "nhà có con gái như hủ mắm treo đầu giàn...", đó là lúc hai nàng chưa lấy chồng. Ngoại sợ đổ vỡ cái mà người ta gọi là gia phong. Mà, sợ cũng thừa, hai con gái ngoại cũng chẳng thèm yêu đương hò hẹn, ai thích thì rủ lại nhà chơi với... má tui. Một bữa má đòi theo ông ngoại, bà ngoại nói mầy mà bước đi, tao từ, con gái con đứa con không lo may vá, khéo léo mà bày đặt cầm súng đạn (hay đó chỉ là cái cớ, ngoại sợ rủi một ngày, ngoại phải khóc chồng, khóc cả cho con?). Nhưng má vẫn đi, má biết, sức mấy mà ngoại ngoảnh mặt từ con. Sinh mười lần, chỉ còn hai đứa con gái cu ky, con trai, đứa chết vì bị sài đẹn, đứa chết bởi viêm phổi, bởi ban đen (sốt xuất huyết), bởi những căn bệnh tưởng như vặt vãnh nhưng vì nghèo, thiếu thốn, lạc hậu mà những đứa trẻ tuột khỏitay bà. Ở ngoại, luôn có mùi lưu cửu, cũ kỹ. Nó thống nhất từ bộ đồ sờn rách đôi ba chỗ, từ mùi dầu dừa trên tóc, bàn tay đượm hương trầu. Cái tiệm của ngoại cũng cũ mèm những hủ tương da bò, khạp đường mía, mấy cái móc bẻ bằng dây chì treo lùm đùm bọc nhỏ bọc to. Có thể tìm thấy đủ thứ hầm bà lằng món ở đây, từ kim chỉ, nút bóp, đến đá lửa, hột quẹt, ống cuốn (quấn tóc), kiếng lược, đường đậu bột khoai, bột bán, tương chao, nước màu nước mắm xì dầu, kẹo... hiện đại nhất là lon gô của lính Mỹ dùng để đựng tiền. Lúc sinh ra là đã thấy ngoại bán tiệm rồi, cũng như đã thấy ngoại khó tánh sẵn, ngoài việc dằn mặt vụ chưng diện ra, ngoại còn làm con cháu "rè" dài dài, lên mâm cơm, ăn có chậm, hoặc vừa ăn vừa chỏitay cạnh hàm, gác cằm lên đầu gối, ngồi chồm hổm, ngoại sẽ hát khúc "ăn kiểu đó là nghèo chết nghen". Trong chén còn mấy hột cũng phải vét cho sạch, ngoại không thích ăn cơm mà rơi vãi ra ngoài, trái ổi, trái khế cũng đừng hòng cạp nửa bỏ nửa. Bà ngoại hay nói ăn xài huỷ của sau nầy lúc cần, hỏng có mà ăn, lời ngoại như tiên tri vậy, đúng là bây giờ bỗng dưng thèm trái ổi chát ngấm ngày xưa, kiếm được... chết liền. Giũa mấy đứa nhỏ trong nhà tơi tả, ở xóm mà chạng vạng mới chạy tới mua dầu thắp đèn, hay tới bữa cơm mới đi mua gạo, thể nào cũng bị ngoại "tụng" một trận. Ngoại không biết câu "khách hàng là thượng đế", mà "khách hàng là con cháu tao. Không dạy để sau này thành quen, không chịu lo xa, nước tới chưn nhảy chi nửa mà nhảy". Đúng là khó thấy ớn. Có lần, ngoại chèo xuồng ra nhà con gái đầu chơi, thấy thằng rể xách cây đánh con nhỏ cháu mình, ngoại giận lắm, từ ấy, căn nhà đó không còn được đón ngoại ra, dù mười sáu năm nữa đã trôi qua. Rể giờ đã già, nhắc lại, giọng buồn xo. Nhưng đấy không phải là chân dung đầy đủ nhất của bà ngoại. Ngoại sợ uổng tiền, ngoại tiện tặn giặt từng cái bọc nilông cũ, súc rửa từng cái chai sành đựng nước mắm, nâng niu từng cọng dây thun nhưng đối đãi với người ngoài, nhất là người nghèo, làm thuê, làm mướn cho nhà mình thì mướt rượt. Ngày mấy bữa cơm, cà phê, thuốc gò đầy đủ, với những người thợ gặt ngoại cũng bưng nước uống ra tận ngoài đồng cho họ. Ngoại không dám may áo mới nhưng đám con cháu được ăn mặc đủ đầy. Về ngoại, chưa kịp khoanhtay thưa bà đã tong tả xúc gạo cái sột, đi rửa khoai đem luộc, lúc thì ngâm đậu nấu chè, xay bột nấu bánh canh. Cái món bánh tổ ăn thừa, ngoại đem phơi khô treo giàn bếp, lâu lâu đem ra chiên với mở heo, từ ngoại ra đi đã không còn thấy nữa. Không còn thấy nữa bà già nhỏ nhắn, miệng luôn rầy la, chửi chó mắng mèo nhưng trong bụng hiền khô. Bà già đó, nhiều khi cũng cực đoan, cũng phong kiến cũ kỹ, nhưng nền nếp, tử tế. Nhưng bà vẫn ở bên ta hoài, theo một cách riêng của bà, thí dụ gặp khuôn bánh, ai đó vô tình buột miệng, "bà ngoại hồi đó hay nướng bánh kẹp, bánh bông lan..." Nhờ vậy, câu chuyện này được chắp vá từ những người khác nhau những thời điểm khác nhau. Bởi có đứa cháu của bà ngoại hồi xưa không gần gủi với bà lắm, bởi nó sợ căn buồng kín mít chứa toàn đồ cũ của bà nên chẳng khi nào chịu ngủ chung, bởi nó nghĩ bà thương cháu trai hơn, bằng chứng là bà toàn... rửa đít cho ông anh, bởi bà hay cằn nhằn nó. Để một ngày nó thấy ngoại trong nó, ra đường gặp mấy đứa nhỏ tóc đỏ tóc vàng, ăn mặc hở hang, nó đổ quạu, cằn nhằn, "con gái gì không nên nết...". Rất có thể sẽ có "bà ngoại" phần ba.
Làm sông , trích trong tản văn của Nguyễn Ngọc Tư Uỷ ban xã cử chị chạy xuồng máy đưa anh xuống Vàm Cây Tra, bọn họ đùa, "Viết về sông Lớn anh hùng mà có nữ pháo binh anh hùng đi cùng là nhất anh rồi". Chị đang lúi húi mở dây buộc xuồng, cười xòa, "anh hùng gì, mấy ông này cứ đem chuyện cũ nhắc hoài, mắc chán." Anh thấy kỳ lạ, có vẻ chị không vui với những lời như vậy, chị bối rối, chị khoả lấp, chị loay hoay che giấu nụ cười phảng phất buồn. Hay đấy chỉ là cảm giác của riêng anh. Suốt buổi sáng, người phụ nữ nhỏ nhắn này làm anh bất ngờ, thán phục, nể sợ khi biết chị đã từng bắn cháy bốn tàu giặc trên sông Lớn. Mắt anh níu lấy chi tiết đôi bàn tay gân guốc, một bên vai hơi lệch như vẫn còn đang chịu sức nặng của những khẩu B40, môi mím lại, cương nghị, tai không còn thính nhạy, thỉnh thoảng chị lại ngơ ngác, "Hả? Chị điếc lắm, cậu phải nói lớn chị mới nghe được". Cả giọng nói rổn rảng, xởi lởi, cả cái nhìn đen nhức xoáy thẳng vào người đối diện làm chị toát lên vẻ cứng cỏi, kiên cường. Nên anh không thấy lạ khi biết chị vẫn sống một mình, suốt thời con gái lặn lội vì chiến tranh, chắc chị chẳng rảnh rang để hẹn hò, mà, chị mạnh mẽ vậy thì cần gì hẹn hò. Bây giờ, cùng đi hết một quãng đường sông, anh cũng không ngạc nhiên khi chị chạy xuồng máy ôm cua ngọt xớt qua những khúc quanh. Tia nước từ chân vịt bắn lên thành những chùm pháo hoa trắng xóa. Sông Lớn mênh mang trong tầm mắt, mất một lúc, đến gần vàm, anh mừng húm khi thấy xác tàu Mỹ nằm phập phều giữa dòng sông. Anh hớn hở ra hiệu chị dừng lại, anh muốn chụp bức ảnh người nữ pháo binh bên khối sắt thép lạnh lùng kia, chị lại cười, hỏi, "Cậu tính chụp hình bông súng hả? Ừ, khúc sông này mà lên báo chắc đẹp dữ lắm". Biết chị lảng tai từ hồi chiến tranh, vì sức ép của đạn pháo, mà chị hay xua tay bảo "Tật nhỏ. Bệnh nghề nghiệp", anh định cười. Bỗng dưng anh có cảm giác, hay là chính mình mới là kẻ không nghe được lời chị. Rằng con sông này đang vào mùa đẹp nhất. Anh đứng dậy, trùng trình, chênh vênh nơi mũi xuồng, sững sờ nhận ra vẻ đẹp của dòng sông. Bình dị. An nhiên. Tự tại. Hai bên bờ, dừa nước chảy tràn. Cái dãy màu xanh miết, day diết lên chân trời thi thoảng bị ngắt quãng bởi một cái bến sông, vài cây tra treo những chùm chuông vàng rực; bởi những lùm cây dại, bìm bìm đem hoa tím phủ trùm lên; bởi những cái vó nhỏ có đám trẻ tòn ten đánh đu cất lên mẻ lưới đẫm nước... Và gần bờ lá, những bông súng nở bừng vọt lên khỏi mặt nước, rập rờn. Cái dòng chảy trong lẻo rất khẽ khàng, dịu dàng chở sắc tím của bông đi mãi miết. Anh nhìn lại dòng sông qua ống kính máy ảnh và thấy cả hai - anh và cái máy - đều bất lực, không thể chuyển tải, diễn tả, không thu gọn được cái đẹp mênh mang, sâu thẳm này trong một vài bức hình. Anh tự cười mình, sao anh lại phải đợi chị nói, mới nhận ra sông đẹp? Anh bỗng nghe một câu thơ cũ, rành rọt, như thể ở đằng lái, chính chị đang tát nước xuồng và đọc nó chứ không phải vọng lại từ trí nhớ của mình, "Sáng nay Bạch Đằng tạm quên mình làm sử để làm sông". Con sông Lớn bây giờ cũng không thèm làm sử, hay nó đã thôi làm sử, từ khi hết chiến tranh, nhưng mãi đến giờ con người cũng không cho nó làm sông. Anh cũng vậy, cũng bị choán chật, cũng bị chắn mất tầm nhìn vì những cái xác tàu. Nó lù lù đóng cọc ngay ở giữa lòng anh, làm ứa ra những ý nghĩ, sông là những trận đánh, những chiến công. Chiều nay, bên chiếc tàu sắt nằm vùi giữa dòng, anh chợt nhận ra cái cách nước rẽ mình khi đi qua khối thép vô tri này cũng giống như rẽ mình đi qua đám chà, cái đăng, cái đó, chẳng khác gì hết, bởi sông chỉ là sông. Anh ngồi quay lại, và nhìn chị đến ngẩn ngơ, khi phát hiện ra, chị cũng đẹp, cũng dịu dàng, cũng rất phụ nữ. Đôi mày cong, ánh nhìn trong, đuôi mắt hẳn rất sắc, mái tóc dài bới gọn sau ót chắc đã từng đen buốt đến tận lưng. Chị nhỏ nhắn, mỏng manh đến mức anh nghĩ chỉ cần dang tay ra, sẽ gói gọn chị vào lòng. Anh thảng thốt khi phát hiện ra vẻ đẹp của chị như lúc nhận ra vẻ đẹp của sông. Và bỗng dưng anh thấy day dứt cồn cào. Càng nhìn chị anh càng nhói, đuôi mắt kia đã hằn vết chân chim, chưa từng được hôn, mái tóc kia giờ chớm bạc, chưa một lần nào, chưa người đàn ông nào vuốt nó, âu yếm chải nó trong những chiều phai. Và những lúc mỏi mê, cũng không có bờ vai rộng nào cho chị tựa vào. Chị thui thủi đi qua tuổi xuân xanh của mình chỉ vì còn lắm người như anh, chỉ nhìn chị như một anh hùng mà quên chị là phụ nữ. Quên có những con sông chỉ muốn làm sông, bình thường, suốt đời trôi lặng lẽ...
Lời bài hát Sương lạnh căm nóc nhà Thẫm đen hàng cây đứng chơ vơ, Nối nhau về xa tít mờ Nối nhau những khuôn mặt phố
Tôi từng mong ngóng nhiều, Cứ qua đi, mùa Xuân quá xanh tươi Cứ qua đi hè thu nắng rạng ngời Tới đây những ngày Đông xám trời
Hà Nội của tôi những mùa Đông giá lạnh Những con đường thanh vắng trong sương Bước chân người đi không hối hả Những khuôn mặt không vất vả
Đêm nào trong chăn ấm nghe mưa Những mùa Đông thắm thoắt thoi đưa Nhớ đôi môi nào Vẫn tươi hồng trong giá lạnh
Mùa Đông xa nhau Biết bao nhiêu cồn cào nhung nhớ Mùa Đông gặp nhau, Khát khao được gần nhau hơn
Còn lại trong tôi những mùa Đông yêu dấu Mùa bao nhiêu ký ức cho mình nhớ thương Những giấc mơ không thành Những hạnh phúc ngọt lành
Bên mùa cây lá đổ, Biết bao tình yêu chớm nở Biết bao mộng mơ đón chờ Biết bao ô cửa kính mờ
Tôi từng mơ ước nhiều Cứ bên ai buồn vui sớm chiều Cứ cho ai tin yêu rất nhiều Mà tình yêu ai người thấu hiểu
Hà Nội hàng năm từng khi gió về Nhắc tôi rằng con tim rất ngây thơ Yêu một giây phút miệt mài Thương còn thương suốt đời
Ai ngày xưa đã quá xa xôi Ai vừa đây đã quá thân quen Trái tim người Cứ xoay tròn bốn phương
Bình yên trong mưa Thấy chuyến xe càng thêm ấm áp Nhìn ra thành phố, Cứ mỗi năm một mùa Đông mới
Còn lại trong tôi những mùa Đông dấu yêu Mùa bao nhiêu ký ức cho mình nhớ thương Những giấc mơ không thành Những hạnh phúc ngọt lành
Sáng nay bước ra hành lang , kéo cái khăn lại kín cổ , ngửi thấy cái mùi lạnh ẩm quen thuộc thế , chợt giật mình , như cố nhớ về ngày xưa , cố hình dung lại xem cái mùi mùa đông Hà Nội , đi trên những con phố châu âu không thây xa lạ , không thấy cô đơn , như là mình đang đi giữa Hà Nội . Khổ ghê .
Mùa đông rón rén sang rồi , nó báo hiệu bước chân của mình bằng gió , bằng rét , bằng lá khô đến sắt lại , bằng cả mặt trời đi ngủ sớm hơn . Hà Nội nghe bảo vẫn oi , đến bao giờ người người giăng biển : Đông về , hoặc Gío mùa ...thì mình sẽ nhớ điên lên mất . Thế là cuối tuần cũng hết , thứ 2 rồi , mai lại đi học , đi làm mà cái đầu chỉ nghĩ đến nghỉ làm để ngồi học , rồi ngồi học mà cái đầu chỉ nghĩ đến bao giờ thì được về làm việc ở nhà , chắc đến tuổi đi làm rồi , không trốn được nữa . Đáng nhẽ ra năm nay mà ở nhà thì cu Trung sẽ vào năm nhất đại học , sẽ có xe máy mới , sẽ được đi chơi với bạn bè , sẽ bắt đầu được cư xử như mình lớn lắm rồi như đi chơi khuya , hẹn hò này nọ , đằg này lại ở đây , quanh năm chỉ chúi múi vào điện tử , đi học cũng phải cuốc bộ dài đằng đẵng ... thương em mình quá , nếu như ở nhà ... Có lần 2 chị em nói chuyện , bảo : nếu về nhà chị sẽ mua spacy đi làm , Trung mua Sh , 2 chị em mình như kiểu dân chơi í nhờ ) nó bảo : đến lúc về thì bạn bè ra trường đi làm cả rồi , còn đú jì mấy thứ đấy nữa ...giọng cu cậu buồn buồn . Chẳng biết làm sao . Mình mà có tiền ... cái điệp khúc đấy cứ diễn đi diễn lại trong đầu không nguôi , mình mà có tiền , mình sẽ giúp bố mẹ lo cho em học , giúp dì Hồng lo cho Phương béo , Hưng béo , giúp bác Cúc nuôi Hà , giúp người nọ người kia . Bao jờ mình mới làm được đây , cứ nghĩ đến ngày bố mẹ chẳng phải lo cho 2 chị em học hành nữa , thì cũng đã già rồi , thương bố mẹ cả đời vất vả , chẳng biết bao jờ mình mới giúp bố mẹ quẳng gánh lo đi mà vui sống được .